Con chung có được hưởng thừa kế nhà đất nhiều hơn con riêng?

Hỏi: Năm 1990, bố mẹ tôi kết hôn và có 3 người con. Nhưng trong quá trình chung sống, người cha lừa dối và có một đứa con riêng. Năm 2019, bố tôi bị bệnh qua đời và để lại di chúc. Lúc này, người con ghẻ đến đòi chia tài sản. Điều này có được phép không và nếu được thì 3 anh em tôi có được hưởng thêm tài sản thừa kế không?

(Anh Linh, TP.HCM)

Anh Linh cho biết thêm, tài sản chung của bố mẹ anh gồm mảnh đất diện tích 100 mét vuông; 1 căn nhà 3 tầng trên đất và 300 triệu đồng tiền tiết kiệm.

Thắc mắc của anh Linh được Luật sư Giáp Văn Đức – Công ty Luật TGS (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) tư vấn như sau:

1. Quyền thừa kế bất động sản của con riêng

Do khi chết không để lại di chúc nên việc chia di sản thừa kế (ở đây là tài sản riêng của bố ông Linh) sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 650 BLDS 2015 quy định “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; .. ”.

Như vậy, nếu người con riêng chứng minh được mình có quan hệ huyết thống với bố đẻ của Linh thì người này có quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người con riêng này chưa xác định được quan hệ cha con với cha của anh Linh thì có quyền yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha con bằng cách cung cấp tài liệu của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc Cơ quan khác có thẩm quyền xác nhận mối quan hệ cha mẹ – con cái. Trường hợp không có giấy tờ nêu trên thì phải có thư từ, phim ảnh và các vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha mẹ – con, có văn bản xác nhận của người mẹ là con chung của hai người và có ít nhất 2 người thân của người mẹ làm chứng. .

Theo quy định của pháp luật hiện hành, không có quy định cụ thể nào về “con riêng”. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì con riêng của vợ, chồng cũng là thành viên trong gia đình.

Mặt khác, Khoản 2 Điều 79 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Con riêng có quyền, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc của cha dượng, mẹ kế sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71. của Luật này. . Do đó, có thể hiểu con riêng của vợ hoặc chồng là con sinh ra khi vợ hoặc chồng kết hôn hợp pháp mà chung sống như vợ chồng với người khác dẫn đến việc có con với người này. Con riêng có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với cha mẹ theo quy định của pháp luật.

một người đàn ông ôm một đứa trẻ, một người phụ nữ ôm mặt khóc
Vấn đề con chung, con riêng là nguyên nhân dẫn đến nhiều tranh chấp khi phân chia tài sản. Ảnh minh họa: Internet

2. Con chung có được thừa kế nhiều tài sản hơn con riêng không?

Anh Linh chia tài sản chung của bố mẹ là mảnh đất 100m2; 1 căn nhà 3 tầng trên đất và 300 triệu đồng tiền tiết kiệm. Việc đầu tiên cần làm là xác định tài sản riêng của bố anh Linh trong khối tài sản chung với mẹ nói trên.

Trường hợp bố mẹ anh Linh không chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản riêng của anh Linh được xác định theo pháp luật. Cụ thể, quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định rõ: “Khi có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng. vợ có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế ”.

Như vậy, di sản thừa kế của bố ông Linh được xác định là: ½ quyền sử dụng đất đối với thửa đất 100 m2; ½ Căn nhà 3 tầng trên đất và 150 triệu đồng tiền tiết kiệm.

Mặt khác, Khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Những người cùng dòng họ được hưởng phần di sản bằng nhau”. Tức là con đẻ hoặc con riêng thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng phần thừa kế như nhau. Do đó, những người được hưởng di sản thừa kế của bố Linh gồm: Mẹ Linh, 3 anh / chị / em và con riêng. 5 người này sẽ được hưởng 5 suất thừa kế bằng nhau.

Tuy nhiên, trên thực tế, khi chia thừa kế, pháp luật còn tính đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng người thừa kế cũng như việc cải tạo, quản lý hàng thừa kế đó. Do đó, sẽ có trường hợp con chung và con riêng được hưởng thừa kế không bằng nhau.

Đặc biệt:

– Nếu con chung có công chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản và cải tạo, quản lý hàng thừa kế thì con chung được hưởng phần di sản nhiều hơn.

– Nếu con riêng chăm sóc, nuôi dưỡng người chết và có công cải tạo, quản lý hàng thừa kế thì con riêng được hưởng phần di sản nhiều hơn.

Khi có tranh chấp mà không thỏa thuận được và được Tòa án có thẩm quyền giải quyết, giải quyết thì đương sự có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. (Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

Như vậy, việc con riêng hay con chung được hưởng phần thừa kế theo pháp luật nhiều hơn / ít hơn người còn lại phụ thuộc vào công sức quản lý, tôn tạo di sản và chăm sóc, nuôi dưỡng người chết; cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ cho tòa án để hỗ trợ cho yêu cầu của bạn có cơ sở hơn.

Luật sư Giáp Văn Đức – Luật TGS

>> Chồng viết di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho con riêng, vợ có quyền đòi lại không?
>> 4 trường hợp không có tên trong di chúc vẫn được thừa kế

[ad_1]
[ad_2]

Join The Discussion

Compare listings

Compare